はじめて日本で、日本語で研究発表をしたときのことです。どういう問題を扱うかを説明して、文例資料を検討しつつ、まだ知られていない言語の規則を明瞭に定式化し結論を述べました。わたしとしては発表を終えたつもりでしたが、そこにいた①出席者からはなんの反応もありません。皆、おとなしく待っているだけでした。結論が言われたということがわからないのは、わたしが述べた論証(注1)が全然理解できなかったからだろうと思って、もう一回それまでの説明の大筋を要約しました。しかし後で考えて、必要だったのは、終わりの言葉だったとわかりました。もし最後に「以上です」と言っていれば、皆にも発表が終わったことが明らかになっていたでしょう。(中略)
実際、儀式では言うまでもなく、格式張らない(注2)パーティーのときでも、スピーチと拍手、さらに最後には一本締め(注3)だか、三本締めだかで、つねに時間の流れを区切ってリズムをつくるのが日本的作法のように思えます。そういう習慣を見ると、日本人は②はっきりした句点がないと、すぐ不安になる人たちに見えます。
(フランス・ドルヌ+小林康夫『日本語の森を歩いて——フランス語から見た日本語学』講談社)
Bản dịch do AI thực hiện, đối chiếu giữa hai mô hình.
Đây là chuyện khi tôi lần đầu tiên trình bày nghiên cứu bằng tiếng Nhật tại Nhật Bản. Tôi giải thích mình sẽ xử lý vấn đề gì, xem xét các ví dụ câu trong tài liệu, rồi diễn đạt rõ ràng thành quy tắc một quy luật ngôn ngữ vẫn chưa được biết đến và đưa ra kết luận. Về phía tôi, tôi nghĩ mình đã trình bày xong, nhưng ①những người tham dự ở đó lại không có phản ứng gì. Tất cả chỉ im lặng ngồi chờ. Tôi nghĩ rằng họ không nhận ra tôi đã đưa ra kết luận vì hoàn toàn không hiểu phần lập luận của mình, nên tôi lại một lần nữa tóm tắt những điểm chính của phần giải thích trước đó.(注1) Nhưng sau đó nghĩ lại, tôi mới hiểu rằng điều cần thiết chính là một câu báo hiệu kết thúc. Nếu cuối cùng tôi nói “Trên đây là toàn bộ phần trình bày”, thì mọi người hẳn đã biết rõ rằng bài trình bày đã kết thúc. (Lược)
Thực tế, không chỉ trong các nghi lễ mà ngay cả ở những bữa tiệc không quá trang trọng, việc dùng bài phát biểu rồi tiếng vỗ tay, và cuối cùng là một vòng hay ba vòng vỗ tay kết thúc để liên tục phân chia dòng chảy thời gian và tạo nhịp điệu, dường như là một kiểu nghi thức rất Nhật Bản.(注2)(注3) Nhìn vào những tập quán như vậy, người Nhật có vẻ là những người sẽ nhanh chóng cảm thấy bất an nếu không có ②một dấu chấm kết thúc thật rõ ràng.
(Furansu Dorunu + Kobayashi Yasuo, 『Đi bộ trong khu rừng tiếng Nhật — Nhật ngữ học nhìn từ tiếng Pháp』, Kodansha)
Bình luận