そのホテルの前で夕クシ一を降り、入口に一歩足を踏み入れたとたん、ハッとした。
BGM(注1)がいつになくはっきりと耳に飛び込んで来た。クラシック音楽、しかもバイオリンの音であり、やけに聞きなれたその音色。かけられているBGMが「私のCDの音だ」と気がつくのに、さほど時間はかからなかった。
しかも、そのCDはかなり昔に録音したものであり、私は、稚拙な(注2)過去の自分を突き付けられたような敗北感に襲われた(注3)。
そもそも演奏家というのは、録音した自分の演奏は常に不満なものである。また、不満でなければ進歩はない。
ましてや昔の録音となれば、前科(注4)を指摘された犯罪者の気分だ。きっと。
はじめは自分の演奏に似ているなあと思いつつ、聴きすすむにつれ、その思いは確信(注5)へと変わった。
気がつくと、地方のホテルの気のいい従業員が皆、満面の笑みを浮かべて(注6)私の顔を見ている。「そうですよ。これはあなたのCDですよ」と言わんばかりの笑顔が、私には重たい。サービスのつもりなのだろうが、①リラックス出来ないことこの上ない。
クラシック音楽が流れているだけでも、私たち音楽家は瞬時に聴覚が緊張するのだ。
それが同業種の楽器だったら尚更、思考回路までが仕事モードに切り替わり、それまで楽しく会話していた人との話も耳に入らなくなる。耳はBGMを傾聴し(注7)、感性は研ぎ澄まされ、それが例えばレストランでワインを飲んでほろ酔い気分(注8)になってるときであれば、酔いは一瞬で醒める。(中略)
部屋に入っても、全館であの音が鳴っていると思うと落ち着かない。私が売店やフロントに用事があって出ていくたびに、待ち構えていた「満面の笑み」が私を追い込む。
布団を被って寝てしまおうとしても、どこからか「自分の音」が聞こえてくるような気がして、もうノイロ一ゼ状態である。
翌日、すっかり疲れ果てた私は、予定のフライトを早め、朝一番の便で帰ることにした。
チェックアウトの時も、なんだか一層音量が上がったように感じられるBGMと、従業員のこれ以上ない満面の笑顔とが私を見送ってくれたことは言うまでもない。
いやはや、過剰なサービスは客を苦しめる。良いホテルは適度な距離感を心得ている。その距離感こそが良い人間関係を作り出す。それはホテルだけの話ではないとつくづく感じた。
Bản dịch do AI thực hiện, đối chiếu giữa hai mô hình.
Vừa xuống taxi trước khách sạn ấy và đặt chân vào cửa, tôi lập tức giật mình.
Nhạc nền đập vào tai tôi rõ ràng hơn hẳn mọi khi.(注1) Đó là nhạc cổ điển, hơn nữa lại là tiếng violin, với một âm sắc quen thuộc đến lạ. Tôi chẳng mất bao lâu để nhận ra rằng bản nhạc nền đang phát chính là “âm thanh từ CD của mình”.
Hơn nữa, đó là một CD tôi thu âm từ khá lâu trước đây, khiến tôi bị bao trùm bởi cảm giác thất bại như thể bản thân non nớt của quá khứ đang bị lôi ra trước mắt.(注2)(注3)
Vốn dĩ, nghệ sĩ biểu diễn luôn không hài lòng với những bản thu âm phần trình diễn của chính mình. Và nếu không bất mãn thì cũng chẳng có tiến bộ.
Huống chi là một bản thu từ ngày xưa, cảm giác chẳng khác gì một tội phạm bị người ta nhắc lại tiền án.(注4) Chắc chắn là thế.
Lúc đầu tôi chỉ nghĩ “Nghe giống cách mình chơi thật”, nhưng càng nghe tiếp, ý nghĩ ấy càng biến thành sự chắc chắn.(注5)
Khi nhận ra, tất cả những nhân viên hiền hậu của khách sạn địa phương ấy đều đang nhìn tôi với những nụ cười rạng rỡ trên gương mặt.(注6) “Đúng vậy đấy. Đây là CD của chính bạn đấy”, những nụ cười như thể muốn nói vậy khiến tôi cảm thấy nặng nề. Hẳn họ nghĩ đó là phục vụ chu đáo, nhưng ① tôi không thể thư giãn nổi dù chỉ một chút.
Chỉ cần có nhạc cổ điển vang lên thôi là thính giác của những người làm nhạc như chúng tôi đã lập tức căng lên.
Nếu đó lại là nhạc cụ cùng loại với nhạc cụ mình chơi thì càng tệ hơn; ngay cả mạch suy nghĩ cũng chuyển sang chế độ làm việc, và lời của người mà mình vừa trò chuyện vui vẻ trước đó cũng không còn lọt vào tai. Tai chăm chú nghe nhạc nền, cảm giác trở nên sắc bén; nếu chẳng hạn đang uống rượu vang trong nhà hàng và hơi ngà ngà say, thì cơn say cũng tan biến ngay tức khắc.(注7)(注8) (Lược)
Ngay cả khi đã vào phòng, chỉ cần nghĩ rằng thứ âm thanh ấy đang vang khắp khách sạn là tôi vẫn không thể bình tâm. Mỗi lần tôi có việc phải ra quầy hàng hay quầy lễ tân, những “nụ cười rạng rỡ” chực sẵn ấy lại dồn tôi vào đường cùng.
Ngay cả khi trùm chăn định ngủ luôn, tôi vẫn có cảm giác “âm thanh của chính mình” đang vọng tới từ đâu đó, đến mức gần như rơi vào trạng thái suy nhược thần kinh.
Ngày hôm sau, hoàn toàn kiệt sức, tôi đổi chuyến bay dự định sang sớm hơn và quyết định trở về bằng chuyến đầu tiên buổi sáng.
Khỏi phải nói, ngay cả khi trả phòng, thứ nhạc nền mà tôi có cảm giác như âm lượng còn lớn hơn và những nụ cười rạng rỡ hết mức của nhân viên cũng tiễn tôi ra về.
Ôi chao, phục vụ quá mức chỉ khiến khách hàng khổ sở. Một khách sạn tốt hiểu thế nào là giữ khoảng cách vừa phải. Chính khoảng cách ấy tạo nên những mối quan hệ tốt đẹp giữa con người với nhau. Tôi thấm thía rằng điều đó không chỉ đúng với khách sạn.
Bình luận