以下は、小中学校での法教育について書かれた文章である。
すべての法律を小さいころから学習していくことは不可能なことですが、法的な考え方(リーガルマインド)を身につけることで、自分で考え・調べ、自分で解決する能力は格段に高まります。
大学で「よく学び、よく遊ぶ」ためには、時間の使い方が重要です。「大学生の楽しさ」に目覚めると、本当に忙しくなります。講義だけなら、宿題が出されたり授業中に当てられたりした高校時代のほうが、よほど大変です。大学の講義の多くは、聞いていれば済むし、たまに意見を求める教員がいても、受講する前に勉強してこなかったからと責める教員はいませんから、やりすごし(注1)さえすれば終わりです。だから、講義だけ見れば、一定時間教室に「拘束(注2)される」ことを除けば、ほとんど苦痛はありません。しかし、こうして講義をただ聴いているだけでは、得られることもごく限られます。ときどき「高校時代の授業のほうが充実していた」と考える人がいるのは、そのためです。しかし、大学で講義している教員は、講義内容よりもはるかにレベルの高い、広い知識を持っているのが普通で、講義ではそのうちの基本的なことだけを伝えているにすぎません。出し惜しみしている(注3)のではなく、学生の理解力と講義時間の制約(注4)によって、そうせざるをえない(注5)のです。だから、講義で興味を抱いたり疑問を感じたことがあれば、教員の研究室を訪ねて質問すると、驚くほど豊富な話をしてもらえます。
学生らしい大学生活を送るには、こうした「講義からはみだす時間」も必要ですし、将来の就職活動に備えて、在学中にやっておきたいことのための時間も要ります。これらを計画的に組み立てれば、無駄も省け、時間的にも気持ちのうえでも「ゆとり」(注6)が生まれます。
(注1)やりすごす:ここでは、ただ時間が過ぎるのを待つ
(注2)拘束される:ここでは、いなければならない
(注3)出し惜しみしている:ここでは、伝えることができるのに伝えない
(注4)制約:制限
(注5)そうせざるをえない:そうするしかない
(注6)ゆとり:余裕
Bản dịch do AI thực hiện, đối chiếu giữa hai mô hình.
Dưới đây là một đoạn văn viết về giáo dục pháp luật ở trường tiểu học và trung học cơ sở.
Việc học tất cả các luật ngay từ khi còn nhỏ là điều không thể, nhưng nếu hình thành được tư duy pháp lý (legal mind), năng lực tự suy nghĩ, tự tìm hiểu và tự giải quyết vấn đề sẽ được nâng cao đáng kể.
Để có thể “học hết mình, chơi hết mình” ở đại học, cách sử dụng thời gian là rất quan trọng. Một khi nhận ra “niềm vui của đời sinh viên đại học”, bạn sẽ thực sự trở nên bận rộn. Nếu chỉ xét chuyện nghe giảng, thời trung học với bài tập về nhà và việc bị gọi trả lời trong lớp còn vất vả hơn nhiều. Trong nhiều giờ giảng ở đại học, chỉ cần ngồi nghe là xong; ngay cả khi thỉnh thoảng có giảng viên hỏi ý kiến, cũng chẳng có giảng viên nào trách bạn vì trước khi học môn đó đã không chuẩn bị trước, nên chỉ cần cho qua được giờ học là kết thúc.(注1) Vì vậy, nếu chỉ nhìn vào giờ giảng, ngoài việc phải “bị giữ” trong lớp trong một khoảng thời gian nhất định thì gần như chẳng có gì vất vả.(注2) Tuy nhiên, nếu cứ chỉ nghe giảng như vậy thì những gì có thể thu nhận được cũng hết sức hạn chế. Đó là lý do đôi khi có người nghĩ rằng “Những giờ học thời trung học còn bổ ích hơn”. Tuy nhiên, thông thường các giảng viên giảng dạy ở đại học có kiến thức rộng và ở trình độ cao hơn nội dung bài giảng rất nhiều, còn trong giờ học họ chỉ truyền đạt những điều cơ bản trong số kiến thức đó. Không phải họ cố tình giữ lại không nói, mà do giới hạn về khả năng hiểu của sinh viên và thời lượng bài giảng nên họ buộc phải làm như vậy.(注3)(注4)(注5) Vì vậy, nếu trong giờ giảng có điều gì khiến bạn hứng thú hoặc thắc mắc, hãy đến phòng nghiên cứu của giảng viên để hỏi, bạn sẽ được nghe những câu chuyện phong phú đến mức đáng ngạc nhiên.
Để có một đời sống đại học đúng chất sinh viên, bạn cũng cần những “khoảng thời gian vượt ra ngoài bài giảng” như vậy, đồng thời còn cần thời gian cho những việc muốn hoàn thành khi còn đang học để chuẩn bị cho quá trình tìm việc trong tương lai. Nếu sắp xếp những việc này một cách có kế hoạch, bạn có thể giảm bớt sự lãng phí và tạo ra “khoảng dư” cả về thời gian lẫn tinh thần.(注6)
(Chú thích 1) やりすごす: ở đây là chỉ chờ cho thời gian trôi qua.
(Chú thích 2) 拘束される: ở đây là bắt buộc phải có mặt.
(Chú thích 3) 出し惜しみしている: ở đây là dù có thể truyền đạt nhưng lại không truyền đạt.
(Chú thích 4) 制約: sự hạn chế.
(Chú thích 5) そうせざるをえない: không còn cách nào khác ngoài làm như vậy.
(Chú thích 6) ゆとり: sự dư dả, khoảng thoải mái.
Bình luận