最近、思想を表現する方法について考えることが多くなった。たとえば、文章は思想を表現する方法のひとつだけれど、その文章にもいろいろな表現形式がある。哲学の勉強をはじめた頃の私は、さまざまな形式のなかで論文という形式だけが、思想表現の方法にふさわしいと思っていた。
しかし、後に、この考え方を訂正しなければならなくなった。思想の表現として、論文が唯一の方法だということは絶対にない。私たちは、すぐれたエッセーや小説、詩をとおして、しばしば思想を学びとる。とすれば、思想を表現する文章のかたちは、自在であってよいはずである。
ところが、そう考えてもまだ問題はある。というのは、思想の表現形式は、文章というかたちをとるとは限らないのだから。絵でも彫刻でも、音楽でも、つまり実にさまざまなものを用いて、思想を表現するのは可能なはずである。そのなかには、かたちにならないものもある。
たとえば私の村に暮らす人々のなかに、自然に対する深い思想をもっていない人など一人もいない。村の面積の96パーセントを森や川がしめるこの村で、自然に対する思想をもたなかったら、人は暮らしていけない。ところが村人は、<自然について>などという論文を書くことも、文章を書くこともないのである。そればかりか、自分の自然哲学を、絵や音楽で表現しようとも考えない。
そんなふうにみていくと、村人は自然に対してだけではなく、農についての深い思想や、村とは何かという思想をももっているのに、それらを何らかのかたちで表現することも、またないのである。
とすると、村人たちは、どんな方法で自分たちの思想を表現しているのであろうか。私は、それは、<作法>をとおしてではないかという気がする。
(中略)
考えてみれば、もともとは、作法は、思想と結びつきながら伝承されてきたものであった。たとえば昔は、食事の作法を厳しくしつけられた。食べ物を残すことはもちろんのこと、さわぎながら食事をすることも、けっしてしてはいけなかった。それは、食事は生命をいただくものだ、という厳かな思想があったからである。茶碗の中の米だけをみても、人間はおそらく何万という生命をいただかなければならない。だから、そういう人間のあり方を考えながら、いま自分の身体のなかへと移ってくれる生命に感謝する。この思想が食事の作法をつくりだした。
ところが、近代から現代の思想は、このような、日々の暮らしとともにあった思想を無視したのである。その結果、思想は、文章という表現形式をもち、文章を書く思想家のものになった。そして、いつの間にか人間の上に君臨し、現実を支配する手段になっていった。
(内山節『「里」という思想』による)
Bản dịch do AI thực hiện, đối chiếu giữa hai mô hình.
Gần đây, tôi thường suy nghĩ về những phương pháp biểu đạt tư tưởng. Chẳng hạn, văn bản là một trong những phương pháp biểu đạt tư tưởng, nhưng ngay trong văn bản cũng có nhiều hình thức biểu đạt khác nhau. Khi mới bắt đầu học triết học, trong vô số hình thức ấy, tôi từng cho rằng chỉ có hình thức luận văn mới thích hợp để biểu đạt tư tưởng.
Tuy nhiên, về sau tôi buộc phải sửa lại cách nghĩ ấy. Tuyệt đối không thể nói rằng luận văn là phương pháp duy nhất để biểu đạt tư tưởng. Chúng ta thường tiếp nhận được tư tưởng thông qua những bài tùy bút, tiểu thuyết và thơ xuất sắc. Nếu vậy, hình thức văn bản dùng để biểu đạt tư tưởng hẳn có thể tự do, linh hoạt.
Thế nhưng, ngay cả khi nghĩ như vậy thì vẫn còn một vấn đề. Bởi hình thức biểu đạt tư tưởng không nhất thiết phải mang hình thức văn bản. Có thể biểu đạt tư tưởng bằng tranh, bằng điêu khắc, bằng âm nhạc — nói cách khác, bằng rất nhiều thứ khác nhau. Trong số đó còn có cả những thứ không mang một hình dạng cụ thể.
Chẳng hạn, trong số những người sống ở làng tôi, không có một ai là không có tư tưởng sâu sắc về thiên nhiên. Trong ngôi làng mà rừng và sông chiếm 96 phần trăm diện tích này, nếu không có một quan niệm về thiên nhiên thì người ta không thể sống được. Thế nhưng dân làng không viết luận văn mang tên như “Về thiên nhiên”, cũng chẳng viết thành văn bản. Không chỉ vậy, họ cũng chẳng nghĩ đến việc biểu đạt triết lý của mình về thiên nhiên bằng tranh hay âm nhạc.
Nhìn theo cách ấy, dân làng không chỉ có tư tưởng về thiên nhiên mà còn có những tư tưởng sâu sắc về nông nghiệp và về ý nghĩa của làng quê, thế nhưng họ cũng không biểu đạt những tư tưởng ấy bằng bất kỳ hình thức nào.
Nếu vậy, dân làng biểu đạt tư tưởng của mình bằng phương pháp nào? Tôi có cảm giác rằng có lẽ họ biểu đạt chúng thông qua “phép tắc”.
(Lược đoạn)
Nghĩ kỹ thì vốn dĩ phép tắc đã được truyền lại qua các thế hệ trong sự gắn kết với tư tưởng. Chẳng hạn, ngày xưa người ta được dạy rất nghiêm về phép tắc trong bữa ăn. Không chỉ tuyệt đối không được để thừa thức ăn mà cũng tuyệt đối không được vừa ăn vừa làm ồn. Đó là vì có một tư tưởng trang nghiêm rằng ăn uống là tiếp nhận sinh mệnh. Chỉ riêng số hạt gạo trong một bát cơm, con người có lẽ cũng phải tiếp nhận đến hàng chục nghìn sinh mệnh. Vì vậy, trong khi suy ngẫm về cách tồn tại như thế của con người, ta biết ơn những sinh mệnh giờ đây sẽ chuyển vào bên trong cơ thể mình. Chính tư tưởng này đã tạo ra phép tắc trong bữa ăn.
Thế nhưng, tư tưởng từ thời cận đại đến hiện đại đã phớt lờ loại tư tưởng vốn tồn tại cùng với đời sống thường ngày như thế này. Kết quả là tư tưởng có được hình thức biểu đạt là văn bản và trở thành thứ thuộc về những nhà tư tưởng viết văn. Rồi từ lúc nào không hay, nó ngự trị bên trên con người và trở thành một phương tiện chi phối hiện thực.
(Theo Uchiyama Takashi, “Tư tưởng về ‘Sato’”)
Bình luận