「A」
乳幼児期の子どもは、身近な人とのかかわりあい、そして遊びなどの実体験を重ねることによって、人間関係を築き、心と身体を成長させます。ところが乳幼児期からのメディア(注1)漬けの生活では、外遊びの機会を奪い、人とのかかわり体験の不足を招きます。実際、運動不足、睡眠不足そしてコミュニケーション能力の低下などを生じさせ、その結果、心身の発達の遅れや歪ゆがみが生しょうじた事例じれいが臨床りんしょうの場(注2)から報告されています。このようなメディアの弊害は、ごく一部の影響を受けやすい個々の子どもの問題としてではなく、メディアが子ども全体に及ぼす影響の甚大さの警鐘と私たちはとらえています。特に象徴機能(注3)が未熟な2歳以下の子どもや、発達に問題のある子どものテレビ画面ヘの早期接触や長時間化は、親子が顔をあわせ一緒に遊ぶ時間を奪い、言葉や心の発達を防げます。
「B」
専門家からは「テレビをやめて積極的に外遊びをしましょう」「自然の中で遊びましょう」という意見が聞かれますが、お母さんたちは進んでテレビを見せているのではなく、地域に出ても同世代の子どもがいない、昔と比べて自然がなくなった、という問題もあるのだと思います。(中略)
多くの親は、テレビの長時間視聴が良くないことを自覚しており、見せる内容にも気を遣っています。生活の中からテレビを排除するだけではなく、一日に六時間も七時間も子どもにテレビを見せる親の背景に何があるのかを考えなければ、問題の根本的な解決にならないのです。
したがって、私たちの生活スタイルと、子どもにとって望ましいテレビ視聴のあり方のバランスをとりながら、これらの検証を進める必要があるのではないでしょうか。
(小西行郎「早期教育と脳」による)
(注1)メディア:ここでは、テレビやビデオ
(注2)臨床の場:実際の診察、治療の現場
(注3)象徴機能:ここでは、身の回りのものを、例えば言葉などで表す働き
Bản dịch do AI thực hiện, đối chiếu giữa hai mô hình.
「A」
Trẻ em trong giai đoạn sơ sinh và ấu nhi xây dựng các mối quan hệ con người và phát triển cả tâm hồn lẫn cơ thể bằng cách tích lũy những trải nghiệm thực tế như giao tiếp với những người gần gũi và vui chơi. Tuy nhiên, một cuộc sống chìm trong truyền thông từ giai đoạn sơ sinh và ấu nhi sẽ tước đi cơ hội vui chơi ngoài trời và dẫn đến thiếu trải nghiệm giao tiếp với người khác.(注1) Trên thực tế, từ môi trường lâm sàng đã có những báo cáo về các trường hợp thiếu vận động, thiếu ngủ, suy giảm khả năng giao tiếp và những vấn đề tương tự, từ đó dẫn đến sự chậm trễ hoặc lệch lạc trong phát triển cả thể chất lẫn tinh thần.(注2) Chúng tôi cho rằng những tác hại như vậy của truyền thông không nên được coi là vấn đề riêng của một số ít trẻ đặc biệt dễ bị ảnh hưởng, mà là hồi chuông cảnh báo về mức độ to lớn của ảnh hưởng mà truyền thông gây ra đối với trẻ em nói chung. Đặc biệt, việc trẻ dưới hai tuổi, khi chức năng biểu tượng còn chưa trưởng thành, hoặc trẻ có vấn đề về phát triển tiếp xúc với màn hình TV từ sớm hay trong thời gian dài sẽ lấy mất khoảng thời gian cha mẹ và con cái nhìn mặt nhau, cùng chơi với nhau, đồng thời cản trở sự phát triển về ngôn ngữ và tâm hồn.(注3)
「B」
Các chuyên gia thường nói rằng “Hãy ngừng xem TV và tích cực cho trẻ chơi ngoài trời”, “Hãy cho trẻ chơi trong thiên nhiên”, nhưng tôi nghĩ vấn đề còn nằm ở chỗ các bà mẹ không phải chủ động muốn cho con xem TV; ngay cả khi đưa con ra khu vực xung quanh thì cũng không có trẻ cùng độ tuổi, và so với trước đây thì thiên nhiên cũng đã mất đi. (Lược đoạn)
Nhiều bậc cha mẹ nhận thức được rằng cho trẻ xem TV trong thời gian dài là không tốt, và họ cũng chú ý đến nội dung cho con xem. Nếu chỉ loại bỏ TV khỏi cuộc sống mà không suy nghĩ xem điều gì nằm phía sau việc có những bậc cha mẹ cho con xem TV tới sáu, bảy tiếng mỗi ngày, thì sẽ không thể giải quyết vấn đề tận gốc.
Vì vậy, chẳng phải chúng ta cần tiếp tục kiểm chứng những vấn đề này trong khi tìm sự cân bằng giữa lối sống của mình và cách xem TV phù hợp đối với trẻ hay sao?
(Theo Konishi Yukio, “Giáo dục sớm và bộ não”)
(Chú thích 1) Truyền thông: ở đây chỉ TV và video
(Chú thích 2) Môi trường lâm sàng: nơi thực tế tiến hành khám và điều trị
(Chú thích 3) Chức năng biểu tượng: ở đây là chức năng biểu đạt những sự vật xung quanh, chẳng hạn bằng ngôn từ
Bình luận