私は、科学が再び文化のみに寄与する営みを取り戻すべきと考えている。壁に飾られたピカソの絵のように、なければないで済ませられるが、そこにあれば楽しい、なければ何か心の空白を感じてしまう、そんな「無用の用」としての科学である。世の中に役立とうというような野心を捨て、自然と戯れ(注1)ながら自然の偉大さを学んでいく科学で良いのではないだろうか。好奇心、探求心、美を求める心、想像する力、普通性への憧れ、そのような人間の感性を最大限練磨(注2)して、人間の可能性を拡大する営みのことである。
むろん、経済一辺倒の現代社会では、そんな原初的な科学は許されない。一般に文化の創造には金がかかる。ましてや科学は高価な実験器具やコンピューターを必要とするから一定の投資をしなければならず、そうすれば必ずその分の見返りが要求される。「文化より明日のコメを」という声も絶えることがない。社会もムダと思われるものに金を投ずるのを忌避(注3)するからだ。それが「役に立つ」科学とならねばならない要因で、科学者もセールスマンのように次々に目新しい商品を用意して社会の要求に迎合していかねばならなくなる。それを逆手にとって、あたかも世の中を牛耳(注4)っているかのように尊大に振舞う科学者すら登場するようになった。これほど社会に貢献しているのだから、もっと金をよこせ(注5)というわけである。金を通しての科学者と社会の網引き(注6)状態と言えるだろうか。
それでいいのかと改めて考え直してみる必要がある。確かに科学には金がかかり、それには社会の支持が欠かせない。「無用の用」にすらならないムダも多いだろう。しかし、ときに科学は世界の見方を変える大きな力を秘めている。事実、科学はその力によって自然観や世界観を一変させ、社会のありように大きな変化をもたらしてきた。社会への見返りとは、そのような概念や思想を提供する役目にあるのではないか。それは万に一つくらいの確率であるかもしれないが、科学の営み抜きにしては起こり得ない貢献である。むろん、天才の登場を必要とする場合が多いが、その陰には無数の無名の科学者がいたことを忘れてはならない。それらの積み上げがあってこそ天才も活躍できるのである。
今必要なのは、「文化としての科学」を広く市民に伝えることであり、科学の楽しみを市民とともに共有することである。実際、本当のところ市民は「役に立つ科学」ではなく、「役に立たないけれど知的なスリルを味わえる科学」を求めている。市民も知的冒険をしたいのだ。(中略)科学の行為は科学者という人間の営みだから、そこには数多くのエピソードがあり、成功も失敗もある。それらも一緒に紡ぎ合わせる(注7)ことによって「文化としての科学」が豊かになっていくのではないだろうか。それが結果的に市民に勇気や喜びを与えると信じている。
(池内了『科学の限界』による)
(注1)戯れる:ここでは、触れ合う
(注2)練磨する:鍛えて磨く
(注3)忌避する:嫌って避ける
(注4)牛耳る:思い通りに動かす
(注5)よこせ:くれ
(注6)網引き状態:ここでは、引っ張り合い状態
(注7)紡ぎ合わせる:ここでは、組み合わせる
Bản dịch do AI thực hiện, đối chiếu giữa hai mô hình.
Tôi cho rằng khoa học nên lấy lại vai trò là một hoạt động chỉ đóng góp cho văn hóa. Đó là một nền khoa học mang tính “cái hữu dụng của điều vô dụng”, giống như một bức tranh Picasso treo trên tường: không có cũng vẫn sống được, nhưng có thì vui, và nếu thiếu đi lại cảm thấy trong lòng có một khoảng trống nào đó. Chẳng phải khoa học chỉ cần từ bỏ tham vọng muốn có ích cho đời, vui đùa với tự nhiên và trong quá trình đó học hỏi sự vĩ đại của tự nhiên là được hay sao?(注1) Đó là hoạt động rèn giũa đến mức tối đa những cảm quan của con người như lòng hiếu kỳ, tinh thần khám phá, tâm hồn tìm kiếm cái đẹp, sức tưởng tượng và khát vọng hướng tới tính bình thường, qua đó mở rộng những khả năng của con người.(注2)
Tất nhiên, trong xã hội hiện đại chỉ chú trọng kinh tế, một nền khoa học nguyên sơ như vậy sẽ không được chấp nhận. Nói chung, việc sáng tạo văn hóa tốn tiền. Khoa học lại càng cần những thiết bị thí nghiệm và máy tính đắt tiền, nên nhất định phải có một mức đầu tư nhất định; mà một khi đã đầu tư thì tất yếu sẽ bị yêu cầu đem lại lợi ích tương xứng. Những tiếng nói rằng “thà có gạo cho ngày mai còn hơn văn hóa” cũng không bao giờ dứt. Bởi xã hội cũng tránh bỏ tiền vào những thứ bị cho là lãng phí.(注3) Đó là nguyên nhân khiến khoa học phải trở thành thứ “có ích”, và các nhà khoa học cũng buộc phải giống như người bán hàng, liên tục chuẩn bị những “sản phẩm” mới lạ để chiều theo yêu cầu của xã hội. Thậm chí còn xuất hiện những nhà khoa học lợi dụng chính tình thế ấy để hành xử ngạo mạn như thể mình đang nắm quyền chi phối cả thế giới.(注4) Ý của họ là: chúng tôi đã đóng góp cho xã hội nhiều đến thế, vậy hãy đưa thêm tiền đây.(注5) Có thể nói đây là tình trạng giằng co giữa các nhà khoa học và xã hội thông qua tiền bạc.(注6)
Chúng ta cần một lần nữa suy nghĩ lại xem như thế có thực sự ổn hay không. Đúng là khoa học tốn tiền, và sự ủng hộ của xã hội là không thể thiếu đối với nó. Có lẽ cũng có nhiều thứ lãng phí đến mức thậm chí chẳng thể trở thành “cái hữu dụng của điều vô dụng”. Tuy nhiên, đôi khi khoa học ẩn chứa một sức mạnh lớn có thể thay đổi cách chúng ta nhìn thế giới. Thực tế, bằng sức mạnh ấy, khoa học đã làm thay đổi hoàn toàn quan niệm của con người về tự nhiên và thế giới, đồng thời đem lại những biến đổi lớn cho hình thái của xã hội. Chẳng phải sự đền đáp của khoa học đối với xã hội chính là vai trò cung cấp những khái niệm và tư tưởng như vậy hay sao? Xác suất có lẽ chỉ khoảng một phần vạn, nhưng đó là một sự đóng góp không thể xảy ra nếu không có hoạt động khoa học. Tất nhiên, nhiều trường hợp cần có sự xuất hiện của một thiên tài, nhưng ta không được quên rằng phía sau thiên tài ấy là vô số nhà khoa học vô danh. Chính nhờ có sự tích lũy công sức của họ mà thiên tài mới có thể phát huy năng lực.
Điều cần thiết lúc này là truyền đạt rộng rãi đến người dân về “khoa học như một dạng văn hóa” và cùng họ chia sẻ niềm vui của khoa học. Thực ra, điều người dân thực sự mong muốn không phải là “khoa học có ích”, mà là “khoa học tuy không có ích nhưng cho phép họ nếm trải sự hồi hộp về trí tuệ”. Người dân cũng muốn được phiêu lưu về trí tuệ. (Lược) Hoạt động khoa học là hoạt động của những con người gọi là nhà khoa học, nên trong đó có vô số câu chuyện, có cả thành công lẫn thất bại. Chẳng phải bằng cách đan kết cả những điều đó lại với nhau, “khoa học như một dạng văn hóa” sẽ trở nên phong phú hơn hay sao?(注7) Tôi tin rằng kết quả cuối cùng của điều đó sẽ là mang lại lòng dũng cảm và niềm vui cho người dân.
(Theo Ikeuchi Satoru, “Giới hạn của khoa học”)
(Chú thích 1) 戯れる: ở đây là tiếp xúc, giao hòa
(Chú thích 2) 練磨する: rèn luyện và mài giũa
(Chú thích 3) 忌避する: ghét và tránh xa
(Chú thích 4) 牛耳る: điều khiển theo ý mình
(Chú thích 5) よこせ: đưa cho, cho đây
(Chú thích 6) 網引き状態: ở đây là trạng thái giằng co
(Chú thích 7) 紡ぎ合わせる: ở đây là kết hợp lại với nhau
Bình luận