関東のおもだった(注1)デパートの「大食堂」は、とっくに姿を消した。ある年齢以下の人にはなんのことかもわからないだろう。子どもと高齢者のいる家族づれが、和洋中(注2)のなかから好きなものをえらんで、ひとつのテーブルで一度に食事ができた場所のことだ。ファミリーレストランとのちがいは、サービスの質だろう(後者のほうがよい)。
大食堂では、注文するものや、その日の混雑具合によって、料理がはこばれてくる時間にばらつきがあり、ひと家族の注文したものが一度に出てくることはまずない。①それもサービスのうちにふくまれる今日では、まともな飲食店であれば連れの注文したものがきわだって遅いということはまれだが、昭和も四十年代には、あたりはずれの差が大きく、ひとりが食べおわっても、ほかの人の料理がまだこない、ということがありえた。
大食堂のシステムは、見本をみて食べたいものを選んだら食券を買い、自分で席をさがしてテ一ブルにつく。ウェイトレスかウェイターを呼びとめ、半券を手渡せば注文したことになる。
やがて料理をはこんできた人が、のこった半券を回収してゆく。これで完了だが、混雑時には注文したものとちがう料理がはこばれてきたり、あきらかにあとから席についたとなりのテーブルへ、自分が注文したのとおなじ料理が先にはこばれたり、などというサービスの基本にかかわる、混乱がたびたび生じた。
席の案内係というのも機能しておらず、もうじき席を立ちそうな人の後ろで待ちかまえる(注3)、というふうだった(行列のマナーが今ほど浸透していない)。
大食堂が消えた要因として、「食のニーズ(注4)の多様化」などと云われもしたが、わたしはそれよりも、消費者が質のよいサービスをもとめるようになったからだと思う。大食堂という乱雑な形式では、それにこたえることは不可能だったのだ。(中略)
こんな具合の日曜日の大食堂で、だれが楽しめるものか。まともなサービスが追いつかず、消えるべくして消えた大食堂というシステムを、郷愁(注5)だけでなつかしむ人がいるようだが、わたしはごめんこうむる(注6)。
あんなざわざわがやがやしたところで(しかもお安くない)食べるくらいなら、セルフサービスのカフェのほうがよい、というのが現代だと思う。
Bản dịch do AI thực hiện, đối chiếu giữa hai mô hình.
Những “nhà ăn lớn” trong các trung tâm bách hóa lớn ở vùng Kantō đã biến mất từ lâu.(注1) Những người dưới một độ tuổi nhất định có lẽ thậm chí còn không biết đó là gì. Đó là nơi các gia đình có cả trẻ em lẫn người cao tuổi có thể chọn món mình thích trong các món Nhật, Âu hoặc Trung Hoa rồi cùng ăn một lúc tại một bàn.(注2) Điểm khác với nhà hàng gia đình có lẽ là chất lượng phục vụ (loại sau tốt hơn).
Ở nhà ăn lớn, tùy món gọi và mức độ đông khách trong ngày mà thời gian món ăn được mang ra rất khác nhau, và gần như không bao giờ tất cả các món một gia đình gọi lại được mang ra cùng lúc. ① Ngày nay, việc ấy cũng được coi là một phần của dịch vụ, nên ở một quán ăn tử tế hiếm khi món của một người trong nhóm lại ra chậm hơn hẳn những người khác; nhưng vào những năm Shōwa 40, chất lượng rất hên xui, và hoàn toàn có chuyện một người đã ăn xong mà món của những người khác vẫn chưa tới.
Hệ thống của nhà ăn lớn là: sau khi nhìn các món mẫu và chọn món muốn ăn, khách mua phiếu ăn, tự tìm chỗ rồi ngồi vào bàn. Gọi một nữ hoặc nam phục vụ lại và đưa nửa cuống phiếu cho họ là coi như đã gọi món.
Sau đó, người mang món ăn đến sẽ thu lại nửa phiếu còn lại. Như vậy là xong, nhưng lúc đông khách thường xảy ra những sự hỗn loạn liên quan đến những điều căn bản của dịch vụ, chẳng hạn món khác với món đã gọi được mang ra, hoặc một bàn bên cạnh rõ ràng ngồi xuống sau lại được mang món giống món mình gọi trước mình.
Cả nhân viên hướng dẫn chỗ ngồi cũng không hoạt động đúng chức năng, nên mọi người thường đứng chờ ngay phía sau những người có vẻ sắp rời bàn (khi ấy văn hóa xếp hàng chưa phổ biến như bây giờ).(注3)
Người ta từng nói một nguyên nhân khiến nhà ăn lớn biến mất là “nhu cầu ăn uống trở nên đa dạng”, nhưng tôi cho rằng nguyên nhân quan trọng hơn là người tiêu dùng bắt đầu đòi hỏi dịch vụ có chất lượng cao.(注4) Với hình thức lộn xộn của nhà ăn lớn, việc đáp ứng nhu cầu ấy là bất khả thi. (Lược)
Một nhà ăn lớn vào ngày Chủ nhật như thế này thì ai mà tận hưởng nổi? Dường như có người chỉ vì hoài niệm mà nhớ nhung hệ thống nhà ăn lớn vốn không theo kịp tiêu chuẩn phục vụ tử tế và biến mất vì đáng lẽ phải biến mất, nhưng tôi thì xin kiếu.(注5)(注6)
Tôi nghĩ thời nay, nếu phải ăn ở một nơi ồn ào náo nhiệt như thế (mà lại chẳng rẻ), thì người ta thà chọn một quán cà phê tự phục vụ còn hơn.
Bình luận