日本語の大きな特徴には、母音が多いということ以外に、唇をあまり使わずに、口の奥で構音する(言葉をつくる)という点もある。つまり、口元を動かさずに、喉で言葉をつくってる感じだ。だから、日本語をしゃべっていると、能面とかポーカーフェイスといわれる無表情な顔になる。外国人にとっては、「1」これがすごく不気味に思えるらしい。
(中略)
試しに、鉛筆かボールペンか何かを、横向きにくわえてしゃべってみよう。日本語だとちゃんと聞きとれるようにしゃべれるが、例えば英語だと、何言ってんだかわからなくなる。日本語は口の奥で構音するが、英語などは口の先っぽで構音するからだ。口の先っぽに「口かせ」をはめられちゃうと、どうにもならないのだ。
中国語でも「口かせ」をはめると、何言ってるんだかわからなくなる。というよりも発音すること自体、ほとんど不可能になってしまう。同じアジアのお隣さんの国でも、全然違うのだ。母音が多いだけでなく、発音のしかたからしても、日本語は喉声向きにできている。逆に日本語だからこそ、喉声が完成されたのかもしれない。日本語はつまり「2」喉語なのだ。
(中野純『日本人の鳴き声』NTT出版による)
Bản dịch do AI thực hiện, đối chiếu giữa hai mô hình.
Ngoài việc có nhiều nguyên âm, một đặc điểm lớn khác của tiếng Nhật là ít sử dụng môi và cấu âm (tạo ra lời nói) ở sâu bên trong miệng. Nói cách khác, có cảm giác như người ta tạo ra lời nói bằng cổ họng mà gần như không cử động vùng quanh miệng. Vì vậy, khi nói tiếng Nhật, khuôn mặt trở nên vô cảm đến mức được ví với mặt nạ Noh hay poker face. Đối với người nước ngoài, có vẻ 「1」điều này tạo cảm giác vô cùng đáng sợ.
(Lược)
Hãy thử ngậm ngang một cây bút chì, bút bi hay thứ gì tương tự rồi nói chuyện. Với tiếng Nhật, bạn vẫn có thể nói sao cho người khác nghe hiểu rõ ràng, nhưng chẳng hạn với tiếng Anh thì sẽ thành ra chẳng biết bạn đang nói gì. Đó là vì tiếng Nhật được cấu âm ở sâu trong miệng, còn tiếng Anh và những ngôn ngữ tương tự lại được cấu âm ở phần phía trước của miệng. Nếu phần phía trước miệng bị gắn một cái “rọ mõm” thì chẳng còn cách nào nói cho ra hồn.
Với tiếng Trung Quốc cũng vậy, nếu bị gắn “rọ mõm” thì người nghe sẽ chẳng biết bạn đang nói gì. Hay đúng hơn, ngay cả bản thân việc phát âm cũng trở nên gần như không thể. Dù là quốc gia láng giềng cùng ở châu Á thì cũng hoàn toàn khác nhau. Không chỉ có nhiều nguyên âm, xét cả về cách phát âm, tiếng Nhật cũng được cấu tạo theo hướng phù hợp với giọng phát ra từ cổ họng. Ngược lại, có lẽ chính vì là tiếng Nhật nên kiểu giọng cổ họng ấy mới được phát triển đến mức hoàn thiện. Nói cách khác, tiếng Nhật là một thứ 「2」ngôn ngữ cổ họng.
(Theo Nakano Jun, “Tiếng kêu của người Nhật”, NTT Publishing)
Bình luận