娘がまだ3歳の時、田舎の小さなホテルに泊まった。朝早く、一人さきに目覚めた娘に起こされた。
「おとうさん、早く起きて、ねえ、起きてよ。」
まだまだ目が覚めないわたしは、①「もうすこし」といってふとんをかぶる。窓のところへ走っていく娘の足音。しばらくして、「お父さん、ねえ、こっちへ来て。」「ねえ、お父さん、きれいだよ。夕焼けの朝だよ。」
このことばに起き上がったわたしは、「えっ、何?」娘のところに行き、窓から外を見た。そこには、赤い赤い、空が広がっていた。美しい朝焼けの空だ。
「ねっ、きれでしょ。おとうさん。」
「うん、きれいだね。」
娘はまだ3歳。「朝焼け」ということばは知らなかったが、②自分の知っている日本語で目の前に広がる美しい景色を上手に伝えることができた。
人はだれでも、ことばを使って自分の気持ちを表す力を持っている、わたしはそう感じた。
Bản dịch do AI thực hiện, đối chiếu giữa hai mô hình.
Khi con gái tôi mới 3 tuổi, chúng tôi đã ở tại một khách sạn nhỏ ở vùng quê. Sáng sớm, tôi bị con gái, người đã thức dậy trước một mình, đánh thức.
“Bố ơi, dậy nhanh lên, này, dậy đi.”
Tôi vẫn còn ngái ngủ nên nói ①“Thêm một chút nữa thôi” rồi trùm chăn lên đầu. Tiếng chân con gái tôi chạy về phía cửa sổ. Một lúc sau, “Bố ơi, này, lại đây đi.” “Này bố, đẹp lắm đấy. Là buổi sáng hoàng hôn đấy.”
Nghe những lời ấy, tôi ngồi bật dậy: “Hả, gì cơ?” Tôi đi đến chỗ con gái và nhìn ra ngoài qua cửa sổ. Trước mắt tôi là cả một bầu trời đỏ rực trải rộng. Đó là một bầu trời bình minh tuyệt đẹp.
“Thấy chưa, đẹp nhỉ. Bố.”
“Ừ, đẹp thật.”
Con gái tôi khi ấy mới 3 tuổi. Con chưa biết từ “bình minh đỏ”, nhưng ②đã có thể dùng những từ tiếng Nhật mình biết để diễn tả rất khéo léo cảnh đẹp đang trải rộng trước mắt.
Tôi cảm thấy rằng ai cũng có khả năng dùng ngôn từ để thể hiện cảm xúc của mình.
Bình luận